ĐẶNG NGỌC KHOA
Bây giờ khi mi đang nằm chịu đựng cái nghiệt ngã sinh tử của bệnh tật, không hiểu sao tau lại nhớ đến cái căn gác gỗ ngôi nhà ván của mi ở khóm Trung Bình A, phường Thạc Gián, quận Nhì, Đà Nẵng trước năm 1975. Đó là nơi 2 thằng nhóc năm 73, chưa xong lớp 10, mới 16, 17 tuổi, thường rủ rỉ nhau chuyện thơ văn và đặt bày bàn kèm chuyện thế sự. Đúng là, nói kiểu lên gân, thời thế tạo anh hùng mà. Trong những cuộc rủ rỉ như thế, mi bao giờ cũng ôn tồn, từ tốn còn tau lúc nào xem ra cũng hăng tiết vịt. Tau thường lên giọng: cách mạng khi cần phải hy sinh, phải sẵn sàng nhúng tay vào máu... Còn mi thì lặng thinh nghe tau "giảng đạo" rồi thủng thỉnh buông lời nhẹ nhàng: hy sinh tau đồng ý nhưng làm sao đừng phải giết người. Tau lý lẽ có hơn gì mi vì cũng chỉ mới võ vẽ "ăn theo" cách mạng lấy gì lên giọng chỉ bảo đành ngậm câm nhưng trong bụng thấy không phục cái lập trường không cứng chút mô ở thằng bạn thân của mình.
Rứa đó mà đã hơn 30 năm rồi. Hai thằng đều ở lứa tuổi năm mươi cả rồi. Để ngồi ngẫm lại mới buồn cười thấy rằng dù có cách... cái mạng đến cỡ nào thì trẻ con vẫn cứ là... trẻ con.
Tau lên gân cho dữ nhưng khi "tổ chức" giao đi ám sát một nữ sinh cơ sở cách mạng vừa mới ra tù bị nghi có nguy cơ tiết lộ bí mật làm hại cách mạng thì tau lại chẳng dám. Giấu trái M26 trong người, 3 lần bắt gặp cô ấy trong 3 tối đi qua con hẻm có nhà cô, tung ra quá dễ, nhưng tau cứ chùn tay. Tau "đường đường" một "chiến sĩ biệt động" đang muốn lập công, vậy mà cứ thấy việc mình muốn làm quá bất nhẫn. Chắc tại ba cái truyện Tàu thời đó tụi mình đứa nào đều mê lậm vào người: nam nhi ăn hiếp nữ nhi sao phải lẽ, đằng này còn ém vũ khí rình rập đánh lén một người con gái chân yếu tay mềm chẳng lẽ không hèn... Cũng may sau đó "tổ chức" đã "tha" cho tau khi xác minh được cô ấy vô hại và sắp xếp được cho cô vô rừng. Nhưng hình như yếu bóng vía đâu chỉ mình tau mà ít nhất trong hầu hết đám bạn học mon men theo cách mạng tụi mình. Thì đó, như cái lần tau, thằng T. và thằng L., cũng được tổ chức phân công, đi ám sát một ông thầy vì ôm cái chức Phó chủ tịch Thị đảng bộ đảng Dân chủ của ông Thiệu. Ba thằng che chắn cho nhau, vừa run vừa hồi hộp nhét được cục C4 dẻo đã cài kíp nổ dưới ghế xe chiếc Jeep Willy chốc nữa vị Phó chủ tịch kia sẽ ngồi thì bất thần phát hiện ông không đi một mình mà cùng đi với vợ và 1 đứa con trai chừng 4-5 tuổi. Hoảng hồn 3 thằng không ai bảo ai đá mắt cho nhau vừa cấp tốc vừa ra vẻ tỉnh táo để không bị sinh nghi, thu hồi cục "đồ chơi" chết người, đạp xe dông thẳng. Sau này, ngồi với nhau nhớ lại sự việc, tuy không nói ra rõ ràng lý do phải "rút lui" nhưng hình như thằng nào cũng ngầm hiểu: đàn bà, trẻ con vô tội làm sao có thể nỡ... mặc dù biết "đặt trái" dễ, "gỡ trái" mới khó, không khéo còn bị trả giá.
Rứa nên mấy ông cách mạng nòi hoặc có nhiều ân oán nợ máu với đối phương mà có xem thường đám tiểu tư sản học sinh tụi mình hẳn cũng có lý. Không có lý sao được khi hành động của "mấy cậu" không dứt khoát, không kiên quyết và khi cần, không dám lạnh lùng. Cách mạng mà dựa vào mấy cậu thì có Tết... Công Gô mới thành. Mấy cậu lại tỏ ra mơ mộng, nhạy cảm tới mức ngây ngô. Còn nhớ không cái hôm tụ họp tại nhà H.T. ở khóm Tam Giác, phường Thạc Gián, ăn bữa tiệc xôi mẹ H.T. đãi gọi là đánh dấu thời khắc giã biệt phố phường để "lên xanh". Trời ơi, đi vô cái chỗ "một đi không trở lại", không hát câu hào khí "Ra đi, ra đi thà chết chớ lui", đằng này cả đám cứ: "Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao" rồi "Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay..." với "Ngày nào cho tôi biết, biết yêu em rồi tôi biết tương tư...". Ẻo lả kiểu nớ nên chi bước chân vô cứ ngó không giống ai. Có ông nhận bộ quân phục giải phóng xong cố tìm moi ra chỗ sửa cho được khít khao, bắt mắt với vóc dáng của mình. Đi lâm trận mà cứ như đi hội, chẳng có chi nét bình dị, chân chất của một tay nghĩa quân áo vải cờ đào. Đã vậy khi ghi vô sổ cảm nghĩ và động cơ gia nhập quân giải phóng, ông mô cũng hồn nhiên, nghĩ sao ghi vậy, chẳng chút chi cân nhắc. Ồng "Tôi gia nhập... vì muốn biết cộng sản là như thế nào", ông "tôi vào... là để làm văn công", "tôi muốn tham gia viết văn, viết báo"... Xem ra cái lập trường đầu quân giết giặc, hăng say quên mình giải phóng quê hương không thấy rõ nét như những nghĩa sĩ đầu quân từ gốc nông dân.
Tuy vậy cũng mừng là đã không ai bỏ cuộc giữa chừng. Một là cái mơ mộng, hồn nhiên đi kèm với sự nhạy cảm mà những gã tiểu tư sản học sinh tụi mình thường mang trong người nhiều khi giúp được mình giữ lòng tự trọng để không hời hợt, bộp chộp quay lưng lại con đường mình đã chọn. Hai là cũng có lý do khách quan, thời gian tụi mình gắn với cách mạng cho đến ngày ca khúc khải hoàn chẳng lâu la gì nên cái thử thách "trường đồ tri mã lực" xem ra chẳng mấy khắc nghiệt đến quá sức chịu đựng. Song sự thật là sự thật: cái đẹp dù nhỏ nhoi, khiêm tốn vẫn là cái đẹp không thể phủ nhận.
Nhưng sự đời nhiều khi không như ý mình. Mình trong sáng, chân thành người ta nhiều khi vẫn không tin. Đó là tình cảnh, oái ăm thay, mi bị dính vào một cách điển hình nhất. Hồi phố phường, bạn bè chỉ hú một tiếng là gom cái một. Chừng theo cách mạng rồi thì phải theo phân công, lại còn phải bảo vệ bí mật công tác, đâu dễ muốn gặp nhau là gặp. Mi lại thuộc lực lượng vũ trang Thành đội, chính qui hơn tau, một thằng "đánh lén" cấp Quận đội, càng khó dịp gặp, biết đường mô để hỏi thăm. Chỉ đến hồi tiếp quản Đà Nẵng (29.3.75), kiểm điểm lại "binh mã" coi ai còn, ai mất, thấy thằng mô cũng về, quân phục ra dáng, còn riêng mi đâu mất mà không rõ vì sao. Phải 4-5 tháng sau mới thấy mi lộ diện cũng đường đường phong thái một chiến sĩ giải phóng nào khác ai. Nhưng coi vậy mà vẫn... bị khác. Bởi chỉ vài tuần sau, tổ chức kêu lên nói khéo, đại thể: giờ hòa bình rồi, nhiều việc địa phương cần người, ở đâu cũng phục vụ cách mạng, nên ở đây phân công em về đó công tác. Lúc đó mi mới ngờ ngợ hiểu ra: hình như người ta không tin mình vì cái lý lịch bị coi là phức tạp của mình. Chắc vậy nên suốt cả thời kỳ từ nhập đến rời quân giải phóng chẳng khi nào được cầm lấy một khẩu súng, chỉ toàn phải đi tăng gia sản xuất, đi gùi gạo tiếp viện cho người khác. Biết vậy nhưng mi không bất mãn, không hờn trách, vẫn vui vẻ về địa phương phục vụ. Chỉ đến khi, trong một lần tham gia kiểm kê tài sản một gia đình được xếp diện cải tạo tư sản, tình cờ bắt gặp cái ánh nhìn vừa thảng thốt vừa tuyệt vọng của một nữ sinh quen biết là con em trong gia đình ấy, mi với bản tính vốn hiền lành, mẫn cảm, đã không thoát được nỗi cám cảnh ray rức, lặng lẽ bỏ nhiệm sở mà đi... Để rồi sau đó chấp nhận bao phen chìm nổi với đời như chính mi bùi ngùi nhớ lại qua bài viết "Vĩnh biệt thầy Thông" trên khoavietnam.vnweblogs.com mà tau nghĩ đã đủ súc tích cho ai muốn hiểu về mi.
Nhưng càng nhớ lại những cái mốc xô đẩy và đày ải cuộc đời mi, tau không thể không thở dài ngao ngán. Chao ôi, cái chủ nghĩa lý lịch phi lý và phi nhân đã dập tắt bao tâm huyết và làm thui chột bao tài năng. Cái chủ nghĩa ấy đã lạnh lùng chắn cửa mi vào đại học dù mi có dư khả năng và sự tài hoa gấp trăm lần những cái đầu mít đặc chỉ thuần dựa vào cái gọi là lý lịch "sạch" vô cảm. Tau từng nghĩ nếu mi không bị cản trở bởi sự chặn đứng thô bạo đó, sự nghiệp mi tạo dựng sẽ có thể to lớn biết bao. Tau đã từng mượn chính ý của F. Engels, một trong những tổ sư đẻ ra chủ nghĩa Mác Lê, từng đăng hẳn hoi trên báo Tiền Phong của TƯ đoàn, rằng: "Cái quan trọng không phải là xuất thân từ thành phần nào, giai cấp nào, dân tộc nào... mà quan trọng là sống trên đời với mục đích gì và làm gì để đạt mục đích ấy" để phê phán cái chủ nghĩa lý lịch chết tiệt trên trong một lần tranh cãi gay gắt với cấp trên nhằm bảo vệ một đoàn viên mà cấp đoàn của tau nhứt trí giới thiệu đi học đối tượng đảng. Nhưng rốt cuộc cũng thất bại trước một sự ù lì dù tau có bày tỏ phản ứng bằng cách không thèm học lớp đó. Lúc đầu, tau cứ nghĩ cái chủ nghĩa ấy là sản phẩm thành tâm của một đầu óc ấu trĩ, giáo điều. Về sau, khi đã trải đời, tau mới nhận ra sản phẩm ấy thực chất xuất phát từ một toan tính ích kỷ của một tập đoàn đặc quyền đặc lợi, là biến thái ngoan cố và trắng trợn có quy mô rộng lớn hơn của cái tàn dư phong kiến "con vua thì lại làm vua", "một người làm quan cả họ được nhờ"...
Chỉ có điều vẫn còn đó một niềm an ủi. Đó là dù cuộc đời và tình thế xã hội có làm bầm dập những người như mi tới đâu thì mi vẫn giữ được một trái tim trong sáng cho đời. Cái áo không làm nên thày tu, chức tước, danh vị không đủ nói lên nhân cách. Mi cũng chỉ là một nhà báo "quèn", nhưng bản lĩnh thể hiện qua các phóng sự gây ảnh hưởng lớn đến quyết sách của những nhà điều hành xã hội, những bài viết về những phận người, những cảnh đời làm lay động lòng người, cuốn hút sâu rộng đến sự đồng cảm của cộng đồng đã thành chân dung của một tên tuổi, dấu ấn của một tấm lòng.
Cái danh hiệu "nhà thương tâm học" anh em đồng nghiệp gắn vô cho mi để chọc vui ẩn chứa sự đồng tình thừa nhận vai trò không dễ thay thế của mi trong khả năng khơi gợi lòng hảo tâm nơi mọi người.
Và quý giá biết bao khi trong những ngày sức khỏe chừng muốn cạn kiệt, mi vẫn nỗ lực làm bất cứ điều gì có thể để cùng những người bạn đồng hành trong ACE Thiện Văn tiếp tục cứu người, giúp đời sao cho kịp thời, hiệu quả.
Tau, chỉ là một trong những thằng bạn chứng kiến sự bất lực của mi khi đã cố gắng hết mức đối đầu với bệnh tật trong người, không biết làm gì để có thể chia sẻ, viết những dòng này không biết có an ủi được chút gì với mi không, Khoa ơi!
CHIẾN