đêm tưởng niệm nhà báo, nhà thơ Đặng Ngọc Khoa và ra mắt tập thơ Đa mang


Nhà báo Nguyễn Công Khế, nguyên tổng biên tập báo Thanh Niên và vốn là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào học sinh yêu nước TP Đà Nẵng trong những năm 70 thế kỷ trước, viết về Khoa ngay sau khi hay tin anh qua đời: "Đặng Ngọc Khoa là một nhà báo tận tụy với nghề, một nhà báo đúng nghĩa, thông minh và tìm tòi". Tôi chỉ ở mức học trò Khoa trong nghề báo nhưng với tư cách một người bạn từng gắn bó với Khoa qua nhiều chặng đường, mạn phép bổ sung: Khoa không chỉ là một nhà báo năng động, anh còn là một người hết lòng vì việc nghĩa. Ở con người này, tâm huyết với nghề báo và tâm nguyện chia sẻ với những cảnh đời khốn cùng dường như luôn đan quyện vào nhau, khó thể tách rời.
Có thể dẫn ra hàng loạt minh chứng trong tiến trình Khoa cầm bút song hành với bao việc nghĩa Khoa hưởng ứng, cổ vũ hoặc do chính anh trực tiếp khởi xướng, điều hành từ khi khoác lên mình "chiếc áo" nhà báo. Ở đây chỉ xin dẫn ra những ví dụ thời sự nhất, gắn liền với chặng cuối trong con đường nhất quán của đời anh, khi anh biết rõ mình lâm trọng bệnh mà cái sống chỉ còn được tính từng ngày. Thực ra, Khoa biết rất sớm tình cảnh nan y của mình khi các bác sĩ ở bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng, nơi từng mổ tim cho nhiều bệnh nhân nghèo do anh vận động cứu giúp đưa tới, với anh như người nhà, thật khó che giấu sự thật trước anh khi là nơi đầu tiên phát hiện ra bệnh của anh. Đến khi, theo sự chia sẻ ân cần của Ban biên tập cùng đồng nghiệp ở báo Thanh Niên, vào phúc chẩn tại bệnh viện Chợ Rẫy, TP.HCM, gần như anh ít tin sẽ có một kết quả ngược lại. Bởi vậy, sáng 26.8.2009, anh không quay lại bệnh viện mà "giao khoán" cho tôi cùng Trần Thanh Bình, vừa là đồng nghiệp vừa như một đứa em, vào nhận kết quả. Kết quả đúng như Khoa dự đoán. Vị trưởng khoa ung bướu dành gần 1 giờ giải thích cho chúng tôi về bệnh án, sự bất lực của mọi phương án điều trị tây y... và lắc đầu, biết chỉ còn cách cho Khoa xuất viện. Tôi và Bình bàn nhau tìm cách nói khéo khi trở về gặp Khoa nhưng chưa kịp nói thì anh đã vanh vách bệnh trạng của mình không khác mấy kết quả chúng tôi vừa biết. Điều kỳ lạ là khi phải đối mặt lần nữa với sự thật phũ phàng như thế, anh luôn tỏ ra lạc quan, mình chưa kịp an ủi anh thì anh đã lấn át mình để an ủi ngược lại mình. Dưới một trong những tấm ảnh kỷ niệm sự hiện diện lần cuối của anh ở TP.HCM, anh ghi chú một câu rất khẳng quyết: "BV bó tay, tôi quyết không buông tay! Don't cry for me!"
%20ra%20vien%20hom%201[1].9.2009.jpg)
Nhà báo Lê Đức Hùng, Phó văn phòng đại diện báo Thanh niên tại miền Trung, trong đêm tưởng niệm cuối cùng trước khi đưa Khoa về nơi yên nghĩ vĩnh hằng, tổng kết cô đúc mà đầy ý nghĩa: Chỉ tính từ năm 2002 về định cư tại TP. Đà Nẵng quê nhà cho đến khi Khoa kiệt sức không thể làm được những gì mình muốn làm, với tư cách nhà báo say làm việc nghĩa, anh với bao bạn bè chung tâm nguyện đã vận động quyên góp được trên 3 tỉ đồng lo cho hàng chục ca bệnh nhân nghèo mổ tim miễn phí, cứu giúp cho hàng trăm mảnh đời bất hạnh, khốn khó ở nhiều nơi trong nước. Trong đêm ấy, nhà thơ Đông Trình cũng là người thầy từng nhen nhúm tinh thần yêu nước vào lớp học trò "cưng" của mình trong đó có Khoa, góp phần đưa anh theo kháng chiến, không kềm nổi đã thốt lên: Khoa ơi, cái chết em là cái chết "sướng" bởi quanh em bao người yêu thương... Có thể thầy quá thương, quá tự hào về trò nên nói quá, chẳng ai chọn chết nếu được chọn, nhưng đằng sau lời thầy ẩn chứa một sự thật: thật khó có một cái chết được bao người quây quần chia sẻ hết mình như thế.
Riêng tôi, một trong những người có mặt trong buổi tiễn Khoa đến tận huyệt mộ dành cho anh ở Hoà Tiến, Hoà Vang, Đà Nẵng, vùng quê anh đã chào đời, trong một lúc rời xe thả bộ dọc đường làng, vô tình nghe vài người dân quê đi coi đám hồn nhiên bình phẩm: "Trong khắp làng ni đến chừ, có chú Khoa là nhứt" đến lòng đang buồn cũng phải bật cười. Thử hỏi họ sao dám cả quyết như vậy, họ nói ngay không do dự: "Nói rứa không phải nói chức phận, mà nói trước chừ chưa có đám tang mô được đông nghịt người đưa tới nơi như ri, nói rứa không đúng răng?". Chợt thấy thấm thía cái mộc mạc chân thành người dân quê vô tư bộc lộ. Và càng chợt thấm thía hơn những câu thơ Khoa để lại cho đời bạn bè, thân hữu vẫn thường bùi ngùi nhắc tới:
Sẽ có một ngày như thế tim tôi
trước lúc chết lẽ nào sợ hãi?
Ngực con tôi trái tim trao lại
Không trái tim ai ngừng đập trên đời...;
những câu thơ như dự cảm về cái chết của chính Khoa nhưng cũng khẳng định dứt khoát một sự thật: trái tim anh vẫn sống mãi trong trái tim bao người hiểu anh, yêu anh, "đồng hành cùng trái tim" như anh một đời tâm niệm, theo đuổi.
Chiến
tiễn mi về Hòa Tiến
nơi xưa mi chào đời
về với ba thước đất
tau không khóc mi mô, Khoa ơi
không khóc
nước mắt
những ngày lận đận
quến chặt
thành mảnh xương nghẹn trong cần cổ
rớt ra dễ được mô nờ
tau lặng lẽ trong dòng người đi tiễn
như hạt bụi
trong muôn trùng hạt bụi
mai tau quay lại Bến Tre rồi
tau không khóc mi mô Khoa ơi
nước mắt lặn ở mô tau nỏ biết
nhiều khi rất buồn mà tau cười
lắm hồi rất vui răng tau khóc
tau không khóc mi mô, Khoa ơi
"làng ni chú Khoa là nhứt"
tau đi trên đường làng
nghe mấy bà con quê mi kháo nhau như rứa
chợt bật cười
mà thắt ruột Khoa ơi
"không trái tim ai ngừng đập trên đời"(*)
biết là rứa
nhưng nuốt vô không nổi
ai trên đời cũng phải chết thôi
tau rồi cũng có ngày đến lượt
chỉ đắng lòng khi phải tiễn mi, Khoa ơi
Khoa ơi...
(*) thơ Khoa.
ĐẶNG NGỌC KHOA
Bây giờ khi mi đang nằm chịu đựng cái nghiệt ngã sinh tử của bệnh tật, không hiểu sao tau lại nhớ đến cái căn gác gỗ ngôi nhà ván của mi ở khóm Trung Bình A, phường Thạc Gián, quận Nhì, Đà Nẵng trước năm 1975. Đó là nơi 2 thằng nhóc năm 73, chưa xong lớp 10, mới 16, 17 tuổi, thường rủ rỉ nhau chuyện thơ văn và đặt bày bàn kèm chuyện thế sự. Đúng là, nói kiểu lên gân, thời thế tạo anh hùng mà. Trong những cuộc rủ rỉ như thế, mi bao giờ cũng ôn tồn, từ tốn còn tau lúc nào xem ra cũng hăng tiết vịt. Tau thường lên giọng: cách mạng khi cần phải hy sinh, phải sẵn sàng nhúng tay vào máu... Còn mi thì lặng thinh nghe tau "giảng đạo" rồi thủng thỉnh buông lời nhẹ nhàng: hy sinh tau đồng ý nhưng làm sao đừng phải giết người. Tau lý lẽ có hơn gì mi vì cũng chỉ mới võ vẽ "ăn theo" cách mạng lấy gì lên giọng chỉ bảo đành ngậm câm nhưng trong bụng thấy không phục cái lập trường không cứng chút mô ở thằng bạn thân của mình.
Rứa đó mà đã hơn 30 năm rồi. Hai thằng đều ở lứa tuổi năm mươi cả rồi. Để ngồi ngẫm lại mới buồn cười thấy rằng dù có cách... cái mạng đến cỡ nào thì trẻ con vẫn cứ là... trẻ con.
Tau lên gân cho dữ nhưng khi "tổ chức" giao đi ám sát một nữ sinh cơ sở cách mạng vừa mới ra tù bị nghi có nguy cơ tiết lộ bí mật làm hại cách mạng thì tau lại chẳng dám. Giấu trái M26 trong người, 3 lần bắt gặp cô ấy trong 3 tối đi qua con hẻm có nhà cô, tung ra quá dễ, nhưng tau cứ chùn tay. Tau "đường đường" một "chiến sĩ biệt động" đang muốn lập công, vậy mà cứ thấy việc mình muốn làm quá bất nhẫn. Chắc tại ba cái truyện Tàu thời đó tụi mình đứa nào đều mê lậm vào người: nam nhi ăn hiếp nữ nhi sao phải lẽ, đằng này còn ém vũ khí rình rập đánh lén một người con gái chân yếu tay mềm chẳng lẽ không hèn... Cũng may sau đó "tổ chức" đã "tha" cho tau khi xác minh được cô ấy vô hại và sắp xếp được cho cô vô rừng. Nhưng hình như yếu bóng vía đâu chỉ mình tau mà ít nhất trong hầu hết đám bạn học mon men theo cách mạng tụi mình. Thì đó, như cái lần tau, thằng T. và thằng L., cũng được tổ chức phân công, đi ám sát một ông thầy vì ôm cái chức Phó chủ tịch Thị đảng bộ đảng Dân chủ của ông Thiệu. Ba thằng che chắn cho nhau, vừa run vừa hồi hộp nhét được cục C4 dẻo đã cài kíp nổ dưới ghế xe chiếc Jeep Willy chốc nữa vị Phó chủ tịch kia sẽ ngồi thì bất thần phát hiện ông không đi một mình mà cùng đi với vợ và 1 đứa con trai chừng 4-5 tuổi. Hoảng hồn 3 thằng không ai bảo ai đá mắt cho nhau vừa cấp tốc vừa ra vẻ tỉnh táo để không bị sinh nghi, thu hồi cục "đồ chơi" chết người, đạp xe dông thẳng. Sau này, ngồi với nhau nhớ lại sự việc, tuy không nói ra rõ ràng lý do phải "rút lui" nhưng hình như thằng nào cũng ngầm hiểu: đàn bà, trẻ con vô tội làm sao có thể nỡ... mặc dù biết "đặt trái" dễ, "gỡ trái" mới khó, không khéo còn bị trả giá.
Rứa nên mấy ông cách mạng nòi hoặc có nhiều ân oán nợ máu với đối phương mà có xem thường đám tiểu tư sản học sinh tụi mình hẳn cũng có lý. Không có lý sao được khi hành động của "mấy cậu" không dứt khoát, không kiên quyết và khi cần, không dám lạnh lùng. Cách mạng mà dựa vào mấy cậu thì có Tết... Công Gô mới thành. Mấy cậu lại tỏ ra mơ mộng, nhạy cảm tới mức ngây ngô. Còn nhớ không cái hôm tụ họp tại nhà H.T. ở khóm Tam Giác, phường Thạc Gián, ăn bữa tiệc xôi mẹ H.T. đãi gọi là đánh dấu thời khắc giã biệt phố phường để "lên xanh". Trời ơi, đi vô cái chỗ "một đi không trở lại", không hát câu hào khí "Ra đi, ra đi thà chết chớ lui", đằng này cả đám cứ: "Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao" rồi "Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay..." với "Ngày nào cho tôi biết, biết yêu em rồi tôi biết tương tư...". Ẻo lả kiểu nớ nên chi bước chân vô cứ ngó không giống ai. Có ông nhận bộ quân phục giải phóng xong cố tìm moi ra chỗ sửa cho được khít khao, bắt mắt với vóc dáng của mình. Đi lâm trận mà cứ như đi hội, chẳng có chi nét bình dị, chân chất của một tay nghĩa quân áo vải cờ đào. Đã vậy khi ghi vô sổ cảm nghĩ và động cơ gia nhập quân giải phóng, ông mô cũng hồn nhiên, nghĩ sao ghi vậy, chẳng chút chi cân nhắc. Ồng "Tôi gia nhập... vì muốn biết cộng sản là như thế nào", ông "tôi vào... là để làm văn công", "tôi muốn tham gia viết văn, viết báo"... Xem ra cái lập trường đầu quân giết giặc, hăng say quên mình giải phóng quê hương không thấy rõ nét như những nghĩa sĩ đầu quân từ gốc nông dân.
Tuy vậy cũng mừng là đã không ai bỏ cuộc giữa chừng. Một là cái mơ mộng, hồn nhiên đi kèm với sự nhạy cảm mà những gã tiểu tư sản học sinh tụi mình thường mang trong người nhiều khi giúp được mình giữ lòng tự trọng để không hời hợt, bộp chộp quay lưng lại con đường mình đã chọn. Hai là cũng có lý do khách quan, thời gian tụi mình gắn với cách mạng cho đến ngày ca khúc khải hoàn chẳng lâu la gì nên cái thử thách "trường đồ tri mã lực" xem ra chẳng mấy khắc nghiệt đến quá sức chịu đựng. Song sự thật là sự thật: cái đẹp dù nhỏ nhoi, khiêm tốn vẫn là cái đẹp không thể phủ nhận.
Nhưng sự đời nhiều khi không như ý mình. Mình trong sáng, chân thành người ta nhiều khi vẫn không tin. Đó là tình cảnh, oái ăm thay, mi bị dính vào một cách điển hình nhất. Hồi phố phường, bạn bè chỉ hú một tiếng là gom cái một. Chừng theo cách mạng rồi thì phải theo phân công, lại còn phải bảo vệ bí mật công tác, đâu dễ muốn gặp nhau là gặp. Mi lại thuộc lực lượng vũ trang Thành đội, chính qui hơn tau, một thằng "đánh lén" cấp Quận đội, càng khó dịp gặp, biết đường mô để hỏi thăm. Chỉ đến hồi tiếp quản Đà Nẵng (29.3.75), kiểm điểm lại "binh mã" coi ai còn, ai mất, thấy thằng mô cũng về, quân phục ra dáng, còn riêng mi đâu mất mà không rõ vì sao. Phải 4-5 tháng sau mới thấy mi lộ diện cũng đường đường phong thái một chiến sĩ giải phóng nào khác ai. Nhưng coi vậy mà vẫn... bị khác. Bởi chỉ vài tuần sau, tổ chức kêu lên nói khéo, đại thể: giờ hòa bình rồi, nhiều việc địa phương cần người, ở đâu cũng phục vụ cách mạng, nên ở đây phân công em về đó công tác. Lúc đó mi mới ngờ ngợ hiểu ra: hình như người ta không tin mình vì cái lý lịch bị coi là phức tạp của mình. Chắc vậy nên suốt cả thời kỳ từ nhập đến rời quân giải phóng chẳng khi nào được cầm lấy một khẩu súng, chỉ toàn phải đi tăng gia sản xuất, đi gùi gạo tiếp viện cho người khác. Biết vậy nhưng mi không bất mãn, không hờn trách, vẫn vui vẻ về địa phương phục vụ. Chỉ đến khi, trong một lần tham gia kiểm kê tài sản một gia đình được xếp diện cải tạo tư sản, tình cờ bắt gặp cái ánh nhìn vừa thảng thốt vừa tuyệt vọng của một nữ sinh quen biết là con em trong gia đình ấy, mi với bản tính vốn hiền lành, mẫn cảm, đã không thoát được nỗi cám cảnh ray rức, lặng lẽ bỏ nhiệm sở mà đi... Để rồi sau đó chấp nhận bao phen chìm nổi với đời như chính mi bùi ngùi nhớ lại qua bài viết "Vĩnh biệt thầy Thông" trên khoavietnam.vnweblogs.com mà tau nghĩ đã đủ súc tích cho ai muốn hiểu về mi.
Nhưng càng nhớ lại những cái mốc xô đẩy và đày ải cuộc đời mi, tau không thể không thở dài ngao ngán. Chao ôi, cái chủ nghĩa lý lịch phi lý và phi nhân đã dập tắt bao tâm huyết và làm thui chột bao tài năng. Cái chủ nghĩa ấy đã lạnh lùng chắn cửa mi vào đại học dù mi có dư khả năng và sự tài hoa gấp trăm lần những cái đầu mít đặc chỉ thuần dựa vào cái gọi là lý lịch "sạch" vô cảm. Tau từng nghĩ nếu mi không bị cản trở bởi sự chặn đứng thô bạo đó, sự nghiệp mi tạo dựng sẽ có thể to lớn biết bao. Tau đã từng mượn chính ý của F. Engels, một trong những tổ sư đẻ ra chủ nghĩa Mác Lê, từng đăng hẳn hoi trên báo Tiền Phong của TƯ đoàn, rằng: "Cái quan trọng không phải là xuất thân từ thành phần nào, giai cấp nào, dân tộc nào... mà quan trọng là sống trên đời với mục đích gì và làm gì để đạt mục đích ấy" để phê phán cái chủ nghĩa lý lịch chết tiệt trên trong một lần tranh cãi gay gắt với cấp trên nhằm bảo vệ một đoàn viên mà cấp đoàn của tau nhứt trí giới thiệu đi học đối tượng đảng. Nhưng rốt cuộc cũng thất bại trước một sự ù lì dù tau có bày tỏ phản ứng bằng cách không thèm học lớp đó. Lúc đầu, tau cứ nghĩ cái chủ nghĩa ấy là sản phẩm thành tâm của một đầu óc ấu trĩ, giáo điều. Về sau, khi đã trải đời, tau mới nhận ra sản phẩm ấy thực chất xuất phát từ một toan tính ích kỷ của một tập đoàn đặc quyền đặc lợi, là biến thái ngoan cố và trắng trợn có quy mô rộng lớn hơn của cái tàn dư phong kiến "con vua thì lại làm vua", "một người làm quan cả họ được nhờ"...
Chỉ có điều vẫn còn đó một niềm an ủi. Đó là dù cuộc đời và tình thế xã hội có làm bầm dập những người như mi tới đâu thì mi vẫn giữ được một trái tim trong sáng cho đời. Cái áo không làm nên thày tu, chức tước, danh vị không đủ nói lên nhân cách. Mi cũng chỉ là một nhà báo "quèn", nhưng bản lĩnh thể hiện qua các phóng sự gây ảnh hưởng lớn đến quyết sách của những nhà điều hành xã hội, những bài viết về những phận người, những cảnh đời làm lay động lòng người, cuốn hút sâu rộng đến sự đồng cảm của cộng đồng đã thành chân dung của một tên tuổi, dấu ấn của một tấm lòng.
Cái danh hiệu "nhà thương tâm học" anh em đồng nghiệp gắn vô cho mi để chọc vui ẩn chứa sự đồng tình thừa nhận vai trò không dễ thay thế của mi trong khả năng khơi gợi lòng hảo tâm nơi mọi người.
Và quý giá biết bao khi trong những ngày sức khỏe chừng muốn cạn kiệt, mi vẫn nỗ lực làm bất cứ điều gì có thể để cùng những người bạn đồng hành trong ACE Thiện Văn tiếp tục cứu người, giúp đời sao cho kịp thời, hiệu quả.
Tau, chỉ là một trong những thằng bạn chứng kiến sự bất lực của mi khi đã cố gắng hết mức đối đầu với bệnh tật trong người, không biết làm gì để có thể chia sẻ, viết những dòng này không biết có an ủi được chút gì với mi không, Khoa ơi!
CHIẾN
phượng ơi vô tình đến vậy
ta xưa dạy ở trường này
hơn bảy năm trời qua lại
lúc nào mắt cũng cay cay
vẫn màu hoa ngươi đỏ thắm
đã từng nhuộm chín hồn ta
cớ sao tám năm cầm phấn
bất ngờ phấn vuột tay ta
bao người yêu ngày giải phóng
hơn ta yêu nỗi buồn thương
đời quăng ta qua cửa lớp
giữa màu phượng đỏ rưng rưng
ta chẳng kình ngư khoái sóng
biển khơi quen thói vẫy vùng
bất ngờ rớt cơn đại hạn
xui thành con dế, con giun
"sách vở ích gì buổi ấy"
câu thơ xưa buốt tận lòng
chẳng lẽ thời nào cũng vậy
đời người lạc giữa hư không
đâu rồi các em áo trắng
ta xưa chỉ giáo giờ đâu
bao em ô to, dù rộng
bao em giờ vẫn trần đầu
phải xưa ta thầy dạy toán
vốn xưa giỏi vẽ đường tròn
nên nay vô cùng xứng đáng
hai vòng xe đạp phon phon
ai nghĩ theo nghề dạy học
là thôi chỉ một con đường
ai dè ai cho cú sút
ta thành thầy... đạp xe ôm
...
phượng ơi bừng chi sắc đỏ
trên sân trường cũ ngày nào
ta vẫn thường qua nơi đó
tắt hoài không hết nỗi đau
(bài thơ ni tình cờ thấy trong đống giấy má cũ, không biết là của ai, loáng thoáng nhớ là của L.V.H -đã chết (?), rồi nhớ là của... rồi chịu chết, thôi kệ, của ai cũng được, chỉ nhớ từng biết một ông đạp xe ôm từng là giáo sư dạy toán trung học đệ nhị cấp ở Sài gòn)
Lưu lạc về sông Hậu
Như cánh chim ngủ đậu
Trên giồng đất quê em
Chòi tôi che hướng đông
Che dùm em ngọn gió
Em cười anh chiếc lá
Bị bão dạt về Nam
Tôi cười thời buổi khó
Đi đâu để trốn buồn
Thôi đành đi chăn vịt
Em bảo thế mà hơn
Vịt tôi chăn trăm con
Ngày lùa đi trăm ngả
Bạn tôi trăm tim nhỏ
Bạn tôi trăm linh hồn
Theo nhau qua thời khó
Thương mình em cô đơn
Ngày đưa võng ru con
Trông chồng nơi biên giới
Mùa chiến chinh tưởng lụi
Ai ngờ vẫn còn dài
Em buồn sợi tóc mai
Dài bằng cơn nắng sớm
Em buồn cây nhang ngún
Cháy khuya sầu mênh mang
Mỗi ngày tôi lùa vịt
Qua cánh đồng thênh thang
Buồn tôi khua gậy múa
Hát cùng bèo trôi sông
Mỗi ngày tôi lùa vịt
Qua muôn nẻo chập chùng
Ngóng dùm em phương đó
Coi chồng về hay không.
MƯỜNG MÁN
(thơ sao lại từ mail của một người bạn)
Con cầu Phật ...
" ... phù hộ những người thân cùng bạn hữu của con măi măi
được khỏe mạnh và hạnh phúc."
Phật nói: "Chỉ cho 4 ngày thôi".
Chú Tiểu: "Thế thì xin Phật cho họ được khỏe mạnh và hạnh
phúc trong những ngày mùa xuân, những ngày mùa
hè, những ngày mùa thu và những ngày mùa đông".
Phật nói: "Chỉ cho 3 ngày thôi".
Chú Tiểu: " Nếu chỉ được 3 ngày thì con xin họ được khỏe
mạnh và hạnh phúc trong ngày hôm qua, ngày hôm nay
và ngày mai".
Phật nói: "Chỉ cho 2 ngày thôi".
Chú Tiểu: "Như vậy con xin cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc
trọn ngày, buổi sáng và buổi tối".
Phật nói: "Chỉ cho 1 ngày thôi".
Chú Tiểu: "Vâng, cũng được".
Phật thắc mắc hỏi: "như vậy là ngày nào?".
Chú Tiểu đáp : "con xin cho họ được mạnh khỏe và hạnh phúc từng ngày".
Phật mỉm cười nói: "Tốt lắm. Những người thân và bạn hữu của
con bao gồm những người nào nhận được e-mail
này sẽ được khỏe mạnh và
hạnh phúc mỗi ngày".
Đây là cái e-mail Trần Hoàn gởi tôi hôm 20.1.2009 (nhằm ngày 25 tháng chạp năm Mậu Tý). Mượn cái này tôi xin gởi đến bạn bè thay cho một lời chúc mừng năm mới.
Trọn nửa đời phiêu lãng
Hồn chẳng biết về đâu
Nay chiều ba mươi tết
Mai nở giữa lòng đau
Dương Văn Kỳ
(duongvankybt.blogspot.com)

Sáng thứ bảy ngày 6/12/2008 do đã hẹn nhau trước nên dù trời mưa rất lớn nhưng chúng tôi vẫn có mặt tại cổng Bệnh viện Đa Khoa ĐN để thăm anh Nguyên, nhưng khi chuẩn bị vào thăm thì chúng tôi được biết anh vừa xuất viện hôm qua, do nhà của anh khó tìm chúng tôi phải hẹn nhau lại sáng nay 13/12/2008.
Chúng tôi gồm anh Lê Kim Khánh, anh Nguyễn Văn Phương, anh Nguyễn Văn Lâm, chị Nguyễn Thị Mỹ Vân và Nhường ghé thăm anh Phan Nguyên một cựu TNXP Phú Ninh bị tai biến. Hiện anh bị nhũn não liệt nửa người nằm một chỗ, gia đình anh Phan Nguyên thuộc hộ nghèo của Phường Vĩnh Trung, căn nhà cấp 4 có được hiện nay cũng nhờ UB Phường giúp vật tư xây dựng, vợ anh bị khiếm thính nặng hiện làm tạp vụ cho Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc thuộc Phường Vĩnh Trung Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.
Vừa qua anh Nguyên có nhận được 500.000đ của anh Khoa Chiến gửi về và nhận được tin nhắn chia sẻ cùng 500.000đ của một người bạn anh Khoa Chiến ở TP HCM xin dấu tên, hôm nay các thân hữu cũng bỏ bì thư đến thăm anh.
Sau đó anh Lê Kim Khánh cùng chúng tôi đưa vợ anh Nguyên ra UB Phường để xin một số chế độ, dự kiến:
- Trợ cấp chế độ tật nguyền hàng tháng.
- Chế độ BHYT.
UB Phường hứa sẽ đến xem xét cụ thể sau.
Do Mỹ Vân có việc cơ quan vừa đến nhà anh Nguyên lại phải về gấp.
Vậy thông tin đến các anh
Tăng Nhường
Sáng nay, 13.12.2008, anh em Phú Ninh đã đến thăm Phan Nguyên tại nhà. Đoàn đi gồm có các anh: Lê Kim Khánh, Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Lâm, anh Sanh (B1), Tăng Nhường (B3) và chị Mỹ Vân (B2). Qua điện thoại, anh Nhường cho biết đã hỏi han cặn kẽ sức khỏe, cảnh nhà Phan Nguyên để bàn nhau góp phần chia sẻ cùng anh. Tin rằng các tin tức từ cuộc viếng thăm này sẽ loan truyền rộng rãi trong đồng đội Phú Ninh để mỗi người được góp một chút lòng theo cách riêng của mình. Tôi không phải là người ngoài đội ngũ của các anh chị nhưng không hiểu sao, anh Khánh, anh Phương, anh Sanh, anh Nhường, anh Lâm và chị Mỹ Vân ơi, tôi vẫn muốn nói lời cảm ơn các anh chị mà không cảm thấy chút chi khách sáo.
Ở đời, chỉ cần nhận được một chút đồng cảm thôi là người ta có thể tin vào đời để sống.
Trong niềm tin ấy, tôi xin mạn phép anh Trần Ái Nghĩa, nhạc-sĩ-Phú-Ninh, được "sao" lại TAM KỲ YÊU THƯƠNG của anh để sẻ chia cùng đồng đội Phú Ninh của mình.
bài thơ gốc:
từ xó đời ta
xó đời ta ơi em mà thấy được
chắc gì lòng kia chẳng khác ngày xưa
nếu sống lại thêm mấy lần chiến quốc
ta chắc gì là tay kiếm xuân thu ?
nên đời ta với đèn khuya với rượu
vui gì hơn tình sử lật đôi tờ
ta mà được như người làm truyện cổ
thì chắc lòng em vẫn cứ ngày xưa
xó đời ta ơi bút cùn mực nhạt
em nhìn lui mới biết chuyện không đành
nhưng nếu chút lòng xưa em chẳng khác
thì đoạ đày ta dễ uổng thân danh
trăm năm đó em vẫn là con sáo
thiếu gì đường bay mà phải qua sông
tình đến thế mà lưng chừng em bỏ
đời thơ ta rồi cũng bỏ lưng chừng
vẫn tin được em chưa hề bất nghĩa
ta ru ta bằng một tiếng thở dài
tình có lớn ta mới là danh sĩ ?
đời phải buồn cho đủ những cơn say
thôi có lật thêm nghìn trang cổ sử
người như em hồ dễ gặp hai lần
ta bứt tóc giữa tang điền thương hải
phải chi lòng em còn chỗ dung thân !
1984
hoàng lộc
và chân dung Lê Đình Bích
Lê Đình Bích qua nét vẽ của họa sĩ Chu Hoạch
Trăm năm ấy... qua thư pháp của Lê Đàn (Quảng Trị)
và qua giọng hát của Mỹ Hạnh với hòa âm của nhạc sĩ Bùi Đức Thịnh mà một người nước ngoài sành nhạc đánh giá:

Và đây là duyên do hình thành "Trăm năm ấy em là thân con sáo" của Lê Đình Bích, được giải bày bằng chữ viết của chính hắn:
Và bản dịch ra tiếng Anh lời của "Trăm năm ấy em là thân con sáo"
Sáng 31.11.2008, bất ngờ tôi nhận được cú điện thoại của Phan Nguyên, một đồng đội của tôi ở Phú Ninh xưa, sau nhiều năm không liên lạc. Hỏi thăm tình hình của nhau mới hay anh cũng lâm vào tình cảnh như Lương Danh, bị tai biến não, liệt nửa người, nằm điều trị đã 1 tháng nay tại phòng A11, khoa Tim mạch, bệnh viện đa khoa Đà Nẵng. Anh rất bi quan vì bác sĩ cho rằng khả năng trở lại bình thường chỉ chiếm 24%. Anh nói có thể anh phải bán nhà cửa để lo chạy thuốc thang...
Phan Nguyên vốn sống ở khối phố Vĩnh An A, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, Đà Nẵng. Anh thuộc lớp người có mặt đầu tiên ở công trường thủy lợi Phú Ninh (1977). Lúc đầu anh ở chung với tôi, anh Nguyễn Trà, anh Lương Danh... ở C Vĩnh Trung (B quận nhì -B2) trong khi Nguyễn Đức Liên ở C Tân Chính, Ngô Văn Chỉ ở C Chính Gián... cùng B, Dương Giang Tửu, Lê Kim Khánh, Hồ Quốc Anh... ở B1, Nguyễn Hưng, Ngô Đức Trung, Lê Văn Đó... ở B3. Sau khi B2 sát nhập C Vĩnh Trung và C Thạc Gián thành C1, thì Phan Nguyên ở C này. Và sau khi 3 B nhập thành B Thành phố, anh là C phó C6. Anh rời Phú Ninh vào năm 1980, có khoảng thời gian dài thất nghiệp, phải chạy xe đạp thồ, kiếm ăn từng bữa...
Phan Nguyên cho biết từ hôm nằm viện tới nay, chi phí điều trị đến 3 triệu đồng, anh chỉ mới thanh toán được có 2 triệu, còn 1 triệu chưa biết lấy đâu ra để trả khi anh vì bệnh mà mất luôn việc làm (dạng hợp đồng ngắn hạn) tại một trường học ở Đà Nẵng.
Đồng đội Phú Ninh ơi, tôi viết những dòng này với ước mong thầm lặng sẽ có sự chia sẻ cùng Phan Nguyên trên tinh thần "miếng khi đói bằng gói khi no" từ chúng ta -những người từng một thời gian khổ có nhau...
Mọi sự giúp đỡ dù nhỏ nhất cho Phan Nguyên sẽ được ghi nhận trên blog này như là một sự tri ân mãi mãi.
Cho đến hôm nay (13.12.2008) bạn bè đã giúp Phan Nguyên chống chọi với bệnh tật bằng cách gởi vào tài khoản của anh (0102144870 chi nhánh Ngân hàng Đông Á Đà Nẵng) số tiền 1 triệu đồng, trong đó có 500.000 đồng của một người-không-Phú-Ninh và không muốn nêu tên. Dẫu biết rằng người ấy hành xử theo cách làm ơn không muốn kể ơn, tôi, với tư cách người đã nêu tình cảnh Phan Nguyên lên blog này, vẫn xin mạn phép bày tỏ ở đây lời cảm ơn người.
Qua điện thoại báo tin cho tôi, tôi biết trong niềm vui của Phan Nguyên, không chỉ là có được khoản tiền giúp qua cơn thắt ngặt mà cái chính là đã có người không quên anh. Biết rằng không ai thoát cái thường tình: sinh, lão, bệnh, tử, khổ, nhưng một chút lòng với nhau ở cái cõi tạm là đời hẳn có là điều vô nghĩa...
Cũng qua Phan Nguyên, tôi mới hay Thái Dư Hùng, C trưởng C1 thời B2 đã qua đời. Anh mất đột ngột sau một cơn đột quỵ vào đúng ngày Tết Đoan ngọ năm nay. Bạn bè Phú Ninh đã đi tiễn đưa anh, chỉ có tôi ở xa không hay biết gì. Không biết anh đi rồi, vợ (cũng là người Phú Ninh) và con anh sống ra sao. Trong con mắt nhìn của tôi, anh là một con người chịu thương, chịu khó, trung thực, có nghĩa có tình. Hơn 20 năm bỏ Đà Nẵng mà đi, hình như tôi chỉ có gặp lại anh được 1 lần tại nhà Bùi Đức Anh (C1, B2) ở khu Bàu Hạc cũ trong một cuộc họp mặt đông vui. Giờ tôi chỉ còn biết gởi thầm lời chia buồn muộn đến gia đình anh. Cầu mong chị và các cháu sống ổn định, gặp nhiều may mắn trong cuộc đời.
Chợt đọc lại cái chat với Trần Hoàn hôm 14.10.2008, rồi nhớ Khoa -nhà bão học, bèn hứng quá post lên đây... chơi !
QUA ĐÈO BA DỘI MÀ YÊU
bỏ quên sương giá bãi cồn
bỏ quên chăn gối chút hồn thanh xuân
bỏ quên vui
bỏ quên buồn
bỏ quên trên bãi Sông Hồng cánh chim
tôi về phố thắp đèn lên
và em thắp một lãng quên đón người
cậy dăm bảy cánh chim trời
chở hai con mắt rã rời viễn du
vần ồn níu một vần u
mùa đông lẫn với mùa thu một mùa
Nghệ An bão
Thanh Hoá mưa
em từ Nam Định cũng vừa sang sông
nén nhang thắp ở Đền Sòng
gió thông thốc.Bắc trung phần phiêu phiêu
qua đèo Ba Dội mà yêu
...
trần thiên thị

TIN BUỒN
Chúng tôi vừa nhận được tin buồn:
Cụ ông NGUYỄN VĂN ĐẠI
(thân sinh anh Nguyễn Minh Chiếm)
Quê quán Phong Mỹ, Giồng Trôm, Bến Tre
Từ trần lúc 13h30 ngày 07.11.2008
(nhằm ngày 10.10 Mậu Tý)
Hưởng thọ 92 tuổi.
Linh cữu quàng tại nhà riêng
ấp Phong Thuận, xã Phong Mỹ, huyện
Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre.
Lễ viếng từ chiều ngày 07.11.2008.
An táng tại nghĩa trang gia tộc lúc 23h30
ngày
10.11.2008
Xin chia buồn cùng anh Nguyễn Minh
Chiếm và gia
quyến
Cầu nguyện anh hồn Cụ sớm tiêu diêu
miền cực lạc.
Đặng Ngọc Khoa- Nguyễn Khoa Chiến
và Thân hữu.
Do chú thích không chính xác bài thơ "Lỡ" và đưa không đúng nguyên văn bài thơ thứ 2 của ông cụ trên blog này, tôi xin phép được đính chính bằng chính bài viết dưới đây của người con của cụ -anh Nguyễn Minh Chiếm:
Hôm nay (03/12/2008) đọc lại entry này (tôi viết trên blog ngày 17/06/2007) thì Ba tôi đã mất rồi. Ông mất ngày 07/11/2008 sau hai tháng bệnh nặng. Tôi sửa lại mấy câu thơ dưới đây.
(Viết nhân ngày của Cha)
Tôi ít được gần ba tôi vì khi tôi còn rất nhỏ thì ông đã đi vào cuộc chiến tranh. Khi không còn chiến tranh thì ông nghĩ hưu, còn tôi cũng đã lớn có vợ và ở riêng.Tôi cảm nhận và viết về ba tôi không biết có đúng không:
Ba nghiêm nghị như nhà nho
Ưu tư thầm lặng mà lo cho đời
Gian truân chồng chất trên người
Cuộc đời là một tiếng cười... đớn đau.
(Mấy câu này tôi đã đọc cho ông nghe và ông ứa nước mắt)
Sửa:
Ba nghiêm nghị như nhà nho
Ưu tư thầm lặng mà lo cho đời
Công danh phù phiếm phận người
Cuộc đời là một nụ cười đớn đau
(Giờ đây khi sửa lại thì ông không còn nữa)
Ông là một thầy thuốc bắc đi theo kháng chiến. Là đông y sĩ nên ông ảnh hưởng nho học: sống quân tử, nhân, nghĩa,lễ, trí, tín.
Những năm đầu thập kỷ 70 do sức khỏe yếu ông được đưa về quê an dưỡng (Phong Mỹ, Giồng Trôm, Bến Tre) khi ông đang làm công tác trí vận tại Thị ủy Bến Tre.Lúc bấy giờ chiến tranh cũng còn ác liệt.Trước đó người ta dự định đưa ông ra thành ở hợp pháp nhưng ông không chịu. Về xã, tuổi già đau yếu có khi lại là gánh nặng cho anh em, ra thành thì giống như cầu an sợ chết thậm chí là đầu hàng. Nhà tôi nghèo nhưng nói nghèo người ta không tin.Ở trong tâm trạng đầy mâu thuẫn, ông làm bài thơ LỠ:
Lỡ làng, lỡ lính, lỡ làm dân
Lỡ trí*, lỡ tư*, lỡ cố bần (*trí thức và tư sản)
Lỡ hứa một lời cùng cách mạng
Lỡ lui, lỡ tới, lỡ dừng chân
(Trước đây chú Hai, ba của anh Võ Văn Hai,giám đốc Trung Tâm Khuyến Công hiện nay, nhận xét là bốn chữ lỡ là chữ nghĩa, tôi tưởng là chữ Nho như KC viết nhưng không phải. Ý của chú Hai là biết lỡ nhưng vẫn theo tức là nghĩa (có nghĩa, trung nghĩa)
Cái "lỡ" đó đã kéo ông đi cả cuộc đời, cho đến bây giờ ở tuổi chín muơi mà ông vẫn còn đau đáu chuyện thế sự, chuyện nước non.
Hình trên là thủ bút của ba tôi. Năm 1988 cậu Ba tôi mất. Cậu làngười kháng chiến cũ. Sau giải phóng ít lâu cậu bỗng nhiên cấm khẩu. Con cháu đến nhà vẫn bày mâm uống rượu, mặt mày vui vẻ nhưng không nói bất cứ điều gì. Ông viết trên vách nhà câu thơ bằng chữ Hán: Tăng phì yên hắc Phật. Nghĩa là ông tăng thì mập còn Phật chỉ khói đen. Ba tôi diễn ra là:
Thầy chùa ăn mập ú
Phật tổ mặt nám đen
Vì Phật không ăn cúng
Phật chỉ hưởng khói đèn.
Bài mà anh Khoa Chiến viết viết trên blog chính xác là:
Làng tôi
Mặt tiền là xa lộ
Phía hậu là con sông
Hai đầu hai cái bót
Làng tôi giặc giáp vòng
Ở hai đầu làng tôi lúc đó còn ngòai hai cái bót ra còn có chi bộ và tổ đảng (hồi đó gọi là tiểu tổ đảng).
Cám ơn bè bạn đã chia buồn và chia sẻ với tôi về ba tôi.